Một người đáng chết, rồi ai có quyền giết?
Có những người mình không thể tha thứ. Nhưng giới hạn quyền lực của Nhà nước không nên phụ thuộc vào việc mình có còn thương họ hay không.
Ngày 06.10.2026, Báo Nhân Dân đưa tin Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên án tử hình ở phiên sơ thẩm đối với Nguyễn Đức Anh trong vụ sát hại ba mẹ con. Chỉ riêng chừng đó thông tin đã đủ để câu “đáng chết” xuất hiện. Mình hiểu vì sao.
Mình không định kể lại những chi tiết làm người đọc thêm đau hoặc thêm giận. Bài này cũng không xem một bản án sơ thẩm là điểm kết thúc của mọi thủ tục pháp lý. Vụ án đặt ra một câu hỏi mà mình muốn giữ lại sau khi cảm giác phẫn nộ ban đầu đi qua.
Một người có thể đã làm những việc kinh khủng đến mức mình không tìm nổi chút cảm thông. Nhưng từ chỗ đó đến kết luận Nhà nước được quyền kết thúc mạng sống của họ vẫn còn một đoạn đường. Đoạn đường ấy cần một lập luận, dù người đứng ở cuối nó có đáng ghét đến đâu.
Cứ giả sử người đó chắc chắn có tội
Khi phản đối án tử hình, người ta thường bắt đầu bằng oan sai. Đó là lý do rất mạnh. Một hệ thống do con người vận hành có thể điều tra sai, đánh giá chứng cứ sai, hoặc bị quyền lực làm lệch. Mạng người đã bị lấy đi thì không có bản cập nhật nào trả lại được.
Nhưng nếu toàn bộ lập trường chỉ đứng trên khả năng xử nhầm, nó sẽ gặp ngay câu hỏi “thế còn người chắc chắn có tội thì sao?”. Mình muốn thử trả lời đúng câu đó, thay vì cứ quay lại trường hợp dễ bảo vệ hơn.
Giả sử chứng cứ hoàn toàn rõ ràng. Người phạm tội hiểu việc mình làm, cố ý làm, không hối hận. Giả sử cả việc họ có thể không bao giờ trở lại đời sống bình thường một cách an toàn. Mình vẫn nghĩ Nhà nước cần dừng trước quyền chủ động giết một người đã nằm trong sự kiểm soát của mình chỉ để trừng phạt.
Quyền sống đâu phải phiếu bé ngoan
Nếu quyền sống chỉ dành cho người xứng đáng, vấn đề tiếp theo là ai được phát giấy chứng nhận xứng đáng. Hôm nay có thể là kẻ giết người. Ngày mai phạm vi có thể được mở rộng bằng một đạo luật, một cách hiểu mới về nguy hiểm, hoặc một chính quyền rất tự tin rằng mình đang làm điều đúng.
Mình hiểu quyền sống như một giới hạn đặt lên người khác và lên quyền lực công. Nó có ý nghĩa nhất ở những lúc chủ thể của quyền đó không được yêu thích. Người tử tế thường ít cần tới một hàng rào chống lại đám đông đang muốn trừng phạt mình.
Giữ quyền sống cho người phạm tội không xóa trách nhiệm của họ. Có thể tước tự do, buộc bồi thường, ngăn tiếp xúc với người họ có thể gây hại và áp dụng một bản án rất nghiêm khắc. Mỗi biện pháp vẫn phải có lý do và giới hạn riêng. Việc một người đã vi phạm quyền của người khác không tự cấp cho Nhà nước một tờ giấy trắng.
Mình có thể không tha thứ cho một người, đồng thời không trao cho Nhà nước quyền giết người đó.
Sống cũng không phải lúc nào là điều quý nhất
Có một phản bác mình thấy đáng nghe. Nếu một người coi tự do hoặc phẩm giá quan trọng hơn việc tiếp tục tồn tại, tại sao cứ bắt họ sống bằng mọi giá? Một đời sau song sắt có thể là hình phạt họ sợ hơn cái chết. Mình không muốn gạt điều đó đi bằng câu “còn sống là còn tất cả”. Có những hoàn cảnh mà câu ấy nghe khá vô tâm.
Nhưng điều một người coi quý nhất, quyền của họ trước người khác, và việc Nhà nước được phép làm với họ là ba câu hỏi khác nhau. Mình có thể chấp nhận rằng sự sống không đứng đầu mọi bảng giá trị cá nhân mà vẫn phản đối quyền hành quyết. Quyền được bảo vệ khỏi bị giết không cần dựa vào lời khẳng định rằng mọi người đều luôn muốn sống.
Quyền tự quyết cũng cần được bàn nghiêm túc. Nó không tự động biến mọi mong muốn thành nghĩa vụ của người khác phải thực hiện. Đặc biệt khi người nắm chìa khóa phòng giam cũng là người được đề nghị kết thúc đời sống bên trong đó.
Bấm nút đó đang cứu ai?
Thử đặt hai tình huống cạnh nhau. Một người đang dùng bạo lực đe dọa mạng sống người khác ngay trước mặt mình. Một người đã bị khống chế, tước vũ khí, giam giữ và được đưa tới nơi thi hành án nhiều tháng sau. Cả hai có thể là cùng một người, nhưng lý do dùng vũ lực ở hai thời điểm không giống nhau.
Trong tình huống thứ nhất, mình chấp nhận rằng có lúc phải dùng vũ lực có nguy cơ gây chết để ngăn một nguy hiểm nghiêm trọng, tức thời, khi không còn cách ít gây hại hơn đủ hiệu quả. Đó là một quyết định đáng sợ, cần chịu kiểm tra chặt chẽ, và phải dừng khi mối đe dọa đã được kiểm soát.
Bình luận chung số 36 của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đặt điều kiện rất chặt cho việc dùng vũ lực có thể gây chết trong thực thi pháp luật. Việc cố ý lấy mạng phải thực sự cần thiết để bảo vệ sự sống trước một mối đe dọa tức thời. Mình thấy ranh giới này có ích khi phân biệt ngăn chặn nguy hiểm với trừng phạt sau đó.
Trong tình huống thứ hai, giả sử việc giam giữ đủ an toàn. Bấm nút hành quyết không cứu một con tin đang bị đe dọa ngay lúc ấy. Nó thực hiện một phán quyết về điều người phạm tội phải chịu vì việc đã làm. Muốn bảo vệ lựa chọn đó, mình phải đưa ra lý do về trừng phạt, chứ không thể mượn nguyên lý do của tình huống tự vệ.
Những lý do giữ án tử hình cần được trả lời đàng hoàng
Người ủng hộ án tử hình không nhất thiết chỉ đang giận dữ. Họ có thể quan tâm rất thật đến công lý, sự an toàn và việc pháp luật còn đủ sức bảo vệ người vô tội hay không. Nếu chỉ mô tả họ như một đám đông khát máu, mình đã bỏ qua phần khó nhất của tranh luận.
Một mạng phải trả bằng một mạng
Lập luận báo ứng nói rằng một tội ác cực lớn cần một hình phạt tương xứng, ngay cả khi hình phạt ấy không giúp cải tạo ai. Mình công nhận nhu cầu lên án và trách nhiệm phải chịu. Nhưng tính tương xứng chưa tự quyết định hình thức trừng phạt. Pháp luật không nhất thiết phải lặp lại chính hành vi mà nó kết tội mới thể hiện được mức độ nghiêm trọng của hành vi đó.
Vẫn còn câu hỏi về giới hạn. Nếu xã hội có thể bảo vệ người khác bằng cách giam giữ an toàn, việc cố ý lấy thêm một mạng cần được biện minh riêng. Cảm giác rằng một người “xứng đáng” với cái chết chưa chứng minh rằng một cơ quan công quyền có thẩm quyền làm điều đó.
Phải đủ sợ thì người ta mới không làm
Răn đe là một câu hỏi về hiệu quả thực tế. Mình không có cơ sở để tuyên bố rằng án tử hình chưa từng khiến bất kỳ ai chùn tay. Nhưng câu hỏi để lựa chọn chính sách khó hơn nhiều. Nó có ngăn thêm tội phạm so với hình phạt thay thế đủ nghiêm khắc không, trong điều kiện nào, và bằng chứng đủ vững đến đâu để đánh đổi một quyền không thể trả lại?
Trong vụ S v Makwanyane năm 1995, Tòa Hiến pháp Nam Phi tuyên án tử hình vi hiến. Tòa xem xét cả báo ứng lẫn răn đe, và không thấy cơ sở để coi tử hình có hiệu quả răn đe cao hơn đáng kể so với tù chung thân. Đây là một phán quyết trong bối cảnh pháp lý cụ thể, không phải phép đo sẵn cho mọi quốc gia.
Với mình, câu “bỏ tử hình thì tội phạm sẽ tăng” cần được chứng minh, giống như câu ngược lại. Một hình phạt càng không thể sửa sai càng không nên được bảo vệ chỉ bằng trực giác rằng nó chắc phải có ích.
Có người không thể cải tạo
Mình không muốn đặt lập trường lên lời hứa rằng ai rồi cũng sẽ trở thành người tốt. Có thể một người không thay đổi. Có thể nguy cơ gây hại vẫn rất lớn sau nhiều năm. Khi đó, việc tiếp tục cách ly họ có thể là cần thiết. Nhưng không thể thả an toàn và cần phải giết vẫn là hai kết luận khác nhau.
Điều 77 Quy chế Rome cho phép Tòa án Hình sự Quốc tế áp dụng tù có thời hạn tối đa 30 năm hoặc tù chung thân trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, không có án tử hình trong danh mục này. Phạm vi đó là hình phạt của chính tòa án quốc tế, không tự thay thế luật hình sự trong nước. Nó cho thấy vẫn có một cách xử lý những tội ác rất lớn mà không dùng hành quyết.
Nạn nhân không thể chỉ còn là một câu nhắc cho đủ
Một bài phản đối án tử hình rất dễ dành hết chữ cho người phạm tội rồi thêm cuối bài một câu “tất nhiên mình cũng thương nạn nhân”. Như vậy thì thiếu thật. Người đã chết mất toàn bộ tương lai của họ. Người sống sót có thể phải mang thương tích, sợ hãi, tiền điều trị và khoảng trống trong gia đình rất lâu sau khi phiên tòa kết thúc.
Công lý cần làm những việc cụ thể cho họ. Điều tra đến nơi đến chốn. Xác định trách nhiệm. Bảo vệ người còn sống. Thực hiện nghĩa vụ bồi thường. Có hỗ trợ tâm lý và một cách đối xử không bắt họ liên tục kể lại phần đau nhất đời mình để được tin. Những việc ấy phải được tính vào chất lượng của công lý, chứ không chỉ mức nặng của bản án.
Mình không có quyền yêu cầu gia đình nạn nhân tha thứ, bình thản hay chấp nhận lập trường của mình. Sự giận dữ của họ không cần phải lịch sự để được lắng nghe. Nhưng một hệ thống pháp luật vẫn phải tự chịu trách nhiệm về giới hạn của nó. Không thể giao quyết định về quyền giết người cho mức độ đau đớn của một gia đình rồi coi như đã giải quyết xong.
Bỏ tử hình rồi để người ta mục trong tù cũng chưa ổn
Có một phiên bản chống tử hình mà mình cũng không đồng ý. Đừng giết nhanh, cứ để người đó sống cả đời trong điều kiện khủng khiếp, thế mới đáng. Nếu mục tiêu là kéo dài đau đớn cho tới lúc họ chết, mình chỉ đổi hình thức của sự tàn nhẫn.
Tù chung thân có thể cần thiết để bảo vệ cộng đồng. Nó không tự biến mọi điều kiện giam giữ thành chính đáng. Người bị giam vẫn cần được chăm sóc y tế, không bị tra tấn và không bị cố ý phá hủy đời sống tinh thần. Chuyện này không đòi hỏi mình phải yêu quý họ. Nó đòi hỏi cơ quan đang giữ họ phải chịu trách nhiệm.
Quy tắc Nelson Mandela của Liên Hợp Quốc đặt giới hạn đối với biệt giam, trong đó cấm biệt giam vô thời hạn và kéo dài. Đây là chuẩn mực tối thiểu về đối xử với người bị giam. Việc còn giữ một cơ thể sống chưa đủ để gọi một hệ thống là nhân đạo.
Trong cách tiếp cận của Tòa án Nhân quyền châu Âu ở vụ Vinter và những người khác kiện Vương quốc Anh, án chung thân cần có khả năng được xem xét lại và một triển vọng trả tự do. Điều đó không đồng nghĩa người nào cũng phải được thả hoặc được thả ngay. Đây là chuẩn mực trong hệ thống Công ước châu Âu, không phải mô tả trực tiếp pháp luật Việt Nam.
Mình nghiêng về việc định kỳ đánh giá lại sự cần thiết của giam giữ và mức nguy hiểm thực tế. Xem xét lại không phải phát quà. Nó có thể đi đến kết luận rằng một người vẫn chưa thể được thả an toàn. Nhưng kết luận đó cần được kiểm tra bằng tình trạng hiện tại, thay vì giả định một phán đoán nhiều chục năm trước đã biết hết phần đời còn lại của họ.
Nếu người đó tiếp tục giết người trong tù thì sao?
Đây là phản bác khó và có lý. Một nhà tù không phải chiếc hộp thần kỳ. Người bị giam vẫn có thể gây hại cho người khác hoặc cho nhân viên. Bảo vệ cộng đồng không được hiểu hẹp đến mức quên những người đang ở phía trong hàng rào.
Trách nhiệm khi đó là tổ chức giam giữ an toàn, đánh giá nguy cơ, kiểm soát công cụ có thể gây hại và bảo vệ những người bị đe dọa. Nếu một cuộc tấn công đang xảy ra, có thể phải dùng vũ lực theo mức thực sự cần thiết để chặn nó. Khi đã khống chế được người tấn công, quyền dùng vũ lực ấy không kéo dài thành quyền hành quyết.
Mình không nói làm được điều này thì dễ hoặc rẻ. Bỏ án tử hình là một lựa chọn đòi hỏi hệ thống phải làm việc tốt hơn. Nhưng sự khó khăn của việc quản lý không tự chứng minh rằng kết thúc mạng sống là giải pháp chính đáng. Nếu lấy mọi rủi ro còn lại làm lý do, sẽ rất khó tìm được điểm dừng cho quyền trừng phạt.
Muốn chết trong tù có phải quyền tự quyết?
Nếu người bị kết án nói họ thà chết còn hơn ở tù cả đời, câu hỏi trở nên khó chịu hơn. Mình không muốn trả lời bằng cách phủ nhận hoàn toàn ý chí của họ. Nhưng cũng không muốn gọi bất kỳ lời đồng ý nào trong hoàn cảnh ấy là một lựa chọn tự do đầy đủ.
Người bị giam phụ thuộc vào cơ quan quản lý về chỗ ở, điều trị, an toàn và khả năng tiếp xúc với người khác. Nếu điều kiện sống bị làm cho không chịu nổi rồi người đó xin chết, Nhà nước không thể đơn giản đứng sang một bên và nói “họ tự chọn”. Phải hỏi mình đã làm gì để tạo ra lựa chọn ấy.
Canada có hướng dẫn riêng về hỗ trợ y khoa để chết cho người đang bị giam. Hướng dẫn yêu cầu đáp ứng điều kiện y khoa, năng lực quyết định và một yêu cầu tự nguyện, không do sức ép từ bên ngoài. Việc đang chịu án tù không tự tạo ra điều kiện được tiếp cận. Đó là một quy trình y khoa riêng, không phải tùy chọn đổi bản án thành cái chết.
Mình vẫn để ngỏ nhiều câu hỏi về an tử và hỗ trợ y khoa để chết. Một quyết định có thể tự nguyện tới đâu khi đời sống bị người khác kiểm soát gần như toàn bộ? Ai đánh giá sự tự nguyện, và người đó độc lập với nơi giam giữ tới mức nào? Trước khi chấp nhận mong muốn chết, đã có điều trị và điều kiện sống tử tế chưa?
Cho dù sau này mình có câu trả lời khác về quyền tự quyết ở cuối đời, nó cũng không tự giải quyết câu hỏi về tử hình. Một quyết định y khoa dựa trên hoàn cảnh của người bệnh và một quyết định giết để trừng phạt có cơ sở khác nhau. Gộp chúng lại chỉ làm cả hai khó được xem xét tử tế.
Việt Nam đang thu hẹp, nhưng dừng ở đâu?
Luật số 86/2025/QH15 bỏ hình phạt tử hình ở tám tội danh, có hiệu lực từ 01.07.2025. Tháng 6.2026, một đề xuất sửa Bộ luật Hình sự nêu việc bỏ tử hình ở thêm sáu tội danh. Thông tin thảo luận tại Quốc hội tháng 8.2026 vẫn nói về dự án luật. Cần giữ rõ phần đã có hiệu lực và phần được đề xuất, không cộng chúng lại như thể đều đã thành luật.
Thu hẹp là một hướng đi đáng chú ý. Nhưng câu hỏi của bài này không kết thúc ở việc tội nào còn nằm trong danh sách. Nó nằm ở nguyên tắc chọn danh sách. Nếu một người đã bị kiểm soát và có thể bị giam giữ an toàn, vì sao sự nghiêm trọng của tội ác lại cho phép Nhà nước chủ động lấy mạng họ?
Bản thân Điều 6 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị không đơn giản là một lệnh cấm tử hình vô điều kiện đối với mọi quốc gia thành viên. Mình đang nói về giới hạn mà pháp luật nên tiến tới. Không nên biến một lập trường đạo đức thành lời khẳng định sai rằng luật hiện hành đã nói đúng như vậy.
Ranh giới mình muốn giữ
Mình phản đối việc Nhà nước cố ý kết thúc mạng sống của một người đã bị kiểm soát chỉ để trừng phạt. Mình chấp nhận rằng phải bảo vệ người khác trước nguy hiểm nghiêm trọng, tức thời, kể cả khi biện pháp cuối cùng có thể gây chết. Sau khi nguy hiểm đã bị chặn, lý do đó cũng phải dừng.
Lập trường này không hứa rằng mọi người đều cải tạo được, mọi nạn nhân đều được bù đắp, hay nhà tù tự nhiên sẽ trở nên tử tế. Nó kéo theo trách nhiệm rất nặng về giam giữ an toàn, điều kiện sống, xem xét lại và hỗ trợ nạn nhân. Nếu bỏ tử hình mà bỏ luôn những việc ấy, mình chưa giải quyết được phần quan trọng của vấn đề.
Có lẽ phần khó nhất là giữ nguyên tắc khi người được nó bảo vệ là người mình không muốn bảo vệ chút nào. Nhưng giới hạn quyền lực mà chỉ hoạt động khi mình đang có thiện cảm thì khá mong manh. Đến lúc cần nó nhất, nó lại xin nghỉ.
Mình có thể đứng về phía nạn nhân, đòi hỏi trách nhiệm rất nghiêm khắc và vẫn dừng trước việc trao quyền giết. Câu “người này đáng chết” có thể nói rất nhiều về sự ghê tởm của mình. Câu “ai có quyền giết?” buộc mình nghĩ thêm về hệ thống sẽ còn ở lại sau khi cơn giận đi qua.
Những nguồn mình dùng để nghĩ tiếp
Các nguồn dưới đây giúp kiểm tra dữ kiện và đối chiếu lập luận. Mỗi nguồn có phạm vi pháp lý riêng. Phần nối chúng lại thành một lập trường là cách mình đọc, không phải kết luận mà tất cả tài liệu cùng tuyên bố.
- Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, Điều 6
- Báo Nhân Dân về bản án sơ thẩm ở Đồng Nai ngày 06.10.2026
- Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc, Bình luận chung số 36 về quyền sống
- Tòa Hiến pháp Nam Phi, S v Makwanyane năm 1995
- Quy chế Rome, Điều 77 về hình phạt của Tòa án Hình sự Quốc tế
- Liên Hợp Quốc, Quy tắc Nelson Mandela
- Tòa án Nhân quyền châu Âu, tài liệu về án tù chung thân và vụ Vinter
- Cơ quan quản lý trại giam Canada, hướng dẫn 800-9
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ về Luật số 86/2025/QH15
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ về đề xuất tháng 6.2026
- Cổng Thông tin điện tử Chính phủ về thảo luận tháng 8.2026
- NhanAZ - 06.10.2026